Tiểu Cô Nương
16-10-2005, 11:49 AM
Copy wa trước khi forumn cũ mất .. :D
Học vị Trạng nguyên là học vị cao nhất, giành cho người đỗ đầu kho thi Đình.
Người đi học trước đây phải qua ba kỳ thi lớn (không kể những cuộc sát hạch) gồm có :
Thi Hương :
Là thi ở các trấn, các tỉnh. KHông phải tỉnh nào cũng được tổ chức thi Hương. Người ta chia ra làm nhiều vùng, gọi là các trường. Ba bốn (hoặc nhiều hơn) trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định , trường Hà là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Hà Nội v.v... Tùy theo qui định của các triều ddia.i, các trường thi gồm các kỳ: đệ nhất, đê. nhị, đệ tam, đệ tứ. Đỗ được tất cả các kỳ thi là đỗ thi Hương.
Những người đỗ thi Hương đạt học vị Cử nhân và Tú tài (xưa gọi là Hương cống, Sinh đồ ). Số thí sinh kể có hàng nghìn, nhưng số lấy đỗ chỉ có 72 tú tài và 32 Cử nhân. Những người đỗ Cử nhân sẽ được bổ dụng ra làm quan, đầu tiên có thể được làm việc ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn. Những người đỗ Tú tài thì chưa được sử dụng đến, dó đó mà có nhiều người loay hoay thi cử nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Lần thứ nhất đỗ gọi là ông Tú, lần thứ hai vẫn đỗ Tú tài thì gọi là ông Kép, lần thứ 3 vẫn thế thì gọi là ông Mền (có nơi gọi ngược lại) v.v... cũng vẫn chưa được nhận chức vụ gì cả (trừ một vài trường hợp được tiến cử hay được nhà vua biết đến, nhưng cũng chỉ tuyển dụng vào các cơ quan chuyên môn chứ không vào chính ngạch quan cai trị ).
2. Thi Hội
Kỳ thi Hội là kỳ thi ở cấp nhà nước. Số lượng thi Hội cũng rất đông, tất cả những người đã đỗ Cử nhân đều được dự thi. Có người đã ra làm quan cũng được thi để giành học vị cao và được bổ dụng cao hơn. Những người đỗ thi Hội đều vào thi một kỳ thi cuối cùng rồi mới chính thức nhận học vị. Kỳ thi ấy gọi là Thi Đình.
3. Thi Đình
Gọi là thi Đình, có nghĩa là thi ở sân đình nhà vua. Nơi thi là một cái nghè lớn, nên sau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè . Nhà vua trực tiếp ra đầu đề , và sao khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài , cân nhắc điểm sổ , chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ. Có ba loại học vị trong kết quả thi Đình, được xếp vào ba cái bảng gọi là giáp : (chữ khoa giáp hay khoa bảng từ đây mà ra).
a. Đệ I giáp : Những người giỏi 1 được ghi tên vào bảng này, gọi là các ông Tiến sĩ cập đệ . Bảng này chỉ lấy có 3 người đệ nhất giáp : đệ nhất danh, đệ nhị danh và đệ tam danh.
b. Đệ II giáp : Những người được ghi tên vào bảng này gọi là các ông Tiến sĩ xuất thân . Còn một tên gọi khác để chỉ các ông này, gọi là hoàng giáp . Vậy những người đỗ hoàng giáp , tức là đỗ Tiến sĩ xuất thân , được ghi tên vào bảng thứ 2 : đệ nhị giáp.
c. Đệ III giáp : Trừ những người đỗ I giáp, nhị giáp ra, còn những người xuất sắc kah'c đều ghi tên vào bảng này, gọi là bảng đệ tam giác. Học vị của họ là đồng Tiến sĩ xuất thân (hoặc chỉ gọi gọn là đồng Tiến sĩ ) Tiếng thông thường gọi vị này hay vị kia là đỗ tam giáp, có nghĩala` đỗ đồng Tiến sĩ .
Ở triều Nguyễn, còn có thêm học vì phó bảng , để ghi tên những người, thực ra học lực cũng xứng đáng là Tiến sĩ, nhưng vì có một thiếu sót đó nên không được ghi tên vào bảng chính, mà chỉ ở bảng thứ. Tuy vậy, đây vẫn là những người đã đỗ đại khoa, cũng vào hàng ngũ các ông nghè.
-------------------------------------------------------------------------------------
Số lượng người đực ghi tên vào đệ nhất giáp, đọi là đỗ Tiến sĩ cập đệ, chỉ có 3 người. Người đứng đầu là Trạng nguyên, người thứ hai là Bảng nhãn, thứ 3 là Th'am hoa. Tên gọi ông Trạng , ông Bảng, ông Thám là từ đây mà có.
Đỗ Trạng Nguyên là một vinh dự rất lớn. C'ac ông nghè, từ đời nhà Lê đã được tôn vinh. Có những lễ xướng danh, lễ vinh qui (vua ban cờ biển cho rước về huyện làng ) và được ghi tên vào bia đá đặc ở Văn Miếu. Đỗ TrTr.ng nguyên, tất nhiên được trọng vọng nữa. Đỗ Tiến sĩ, được bổ dụng đi làm quan, tối thiểu cũng làm quan tri phủ. Trạng nguyên , Bãng nhãn, Thám Hoa thì ở những chức vụ cao hơn.
------------------------------------------------------------------------------------
Ở những kỳ thi Đình, có những năm nhà nước không lấy Trạng nguyên. Đó là vào những trường hợp, khi chấm bài, người ta thấy những người đi thi không đạt được điểm số nhất định. KHông đạt điểm để có học vị Trạng nguyên (TN). nhưng điểm số vẫn cao hơn tất cả những người thi Đình ấy, nên vẫn là đỗ đầu, gọi là Đình nguyên . Người đỗ đầu các kỳ thi Hội (đỗ đầu trong các Cử nhân gọi là Hội nguyên ). Do đó, có người là Bãng nhãn, Tháo hoa hay Tiến sĩ mà số điểm cao nhất trong kỳ thi Đình, thì được gọi là Đình nguyên Bảng nhãn, Đình nguyên Thám Hoa, Đình nguyên Hoàng Giáp, Đình nguyên Tiến sĩ. Họ không phải là TN, nhưng vẫn có vinh dự là người đỗ đầu, là bậc nhất trong tất cả các ông nghè ở kỳ thi đó. Vinh dự của họ cũng lớn và thất ra họ cũng đáng là TN trong kỳ thi không có Trạng. Những người như Lê Quí Đôn, (Đình nguyên Bảng nhãn) hay một số vị Đình nhguye^n dưới triều Nguyễn (triều này không lấy trạng mà chỉ lấy Bãng nhãn, Thám hoa ), thực chất cũng xứng đáng là TN.
Trong số những người đỗ đầu, có người có học lực rất xuất sắc, ở các kỳ đều đỗ đầu (thi Hương, thi Hội, thi Đình ). Nếu đỗ đầu hay kỳ thi gọi là Song nguyên đỗ đầu 3 kỳ thi gọi là Tam nguyên . Chẳng hạn như ông Vũ Dương (TN 1493) ông Yên Đỗ Nguyễn Khuyến (hoàng giáp 1871) vv.v... đều được gọi là các ông Tâm Nguyên.
Trong sách này, chúng tôi ghi thêm danh sách các vị Đình nguyên ấy (cả những người chỉ thấy sử sách nói là đỗ đầu cả nước mà không thấy được nêu học vị là gì ), đễ tỏ niềm trân trọng đối với tài năng và công phu học tập của các vị . Có nhiều giai thoại truyền văn về sự thiệt thòi của những vị này, nên không ghi tên của họ có lẽ là một bất công. (thí dụ như trường hợp ông Vũ Diễm, đình nguyên hoàng giáp (1739). Truyện kể rằng , ông là người rất lỗi lạc, Phương ngôn có câu : bút Cấm Chỉ, sĩ Thiên Lộc, là nói về nho sĩ đất Thiên Lộc có tiết giỏi nhất nước. Vũ Diễm quên ở Thiên Lộc (Nghệ An). NHưng khi ghi tên ông trên danh sách đỗ , đáng lẽ viết : đệ nhất giáp, đệ nhất danh, thì nhà vua lại ghi lầm là đệ nhị giáp , đệ nhất danh,. Vì thế mà ông không được mang danh hiệu Trạng. )
GIAI THOẠI VÀ TÁC PHẨM
Một số Trạng Nguyên chính thức và không chính thức
--------
Giai thoại về Lê Văn Thịnh
Trạng Hóa Cọp
Từ cuối thế kỷ XI, nhà Lý đã chú ý đến nho học, cho mở khoa thi đầu tiên (Ất Mão 1075) và chọn được vì TN khai khoa ở nước ta. Đó là TN Lê Văn Thịnh (LVT) , người vùng kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc ).
Trạng nguyên LVT nổi tiếng thông minh, đỗ đại khoa xong là có chỉ triều đình vời ra làm quan ngay. Ông đưỢc vào cung dạy Lý Nhân Tông - từ thuở b'e, rồi tiếp đó đãm nhiệm các chức trách ở triều đình, dần dần lên đến địa vị Thái sư.
Năm 1084, sau cuộc chiến thắng quân Tống , vua Lý va nguyên soái Lý Thường Kiệt thực hiện chính sách ngoại giao không khéo, xin cùng với Tống giảng hòa sai sứ thông thượng Những việc đầu tiên thảo luận là vấn đề trao trả tù binh, phân chia địa giới, đòi lại những vùng đất mà quân Tống đã lấn chiếm trước đây. LVT - lúc này còn giữ chức lang trung binh bộ, được cử làm trưởng đoàn sang Tống đàm phán. Hội nghị đã họp vào tháng 7 năm Giáp Tý (1081). Phía nhà Tống cử viên sứ giả Thành Trạc đứng đầu. Nội dung cuộc tranh luận là bàn về chương giới thuộc hai châu Quy Hóa và Tuận An, cụ thể là đất Vật dương, Vật ác .
Chính tại cuộc hội nghị này, LVT đã nổi bật lên là một nhà ngoại giao kiên quyết lý lẽ vững vàng, thái độ cứng rắn. LVT nói rõ hai vùng đất ấy là của nước ta đã bị bọn tù trưởng ở biên giới nhân lúc lộn xộn đem nộp cho nhà Tô"ng để mong tránh nạn binh hỏa nay xin nhà Tống trả lại. Phái đòn Thành Trạch không chịu lận luận rằng :
- Những đất khi giao tranh đã bị chiếm bay giờ đem trả lại thì đúng . Còn những đất mà người địa phương coi giữ đã xin quy phụ về thiên triều, thí không có lý gi phải trả lại .
LVT trả lời :
- Đất thì có chủ . Bọn được giao cho coi giữ mang nộp và trốn đi thì đó là đất ăn trộm . Chủ giao cho mà lại trộm của chủ, là phạm tội không tha thứ được . Kẻ ăn trộm và kẻ tàng trữ vật trộm cắp đều sai, huống chi bọn chúng lại mang đất trộm đến dâng là làm bẩn sổ sách của thiên triều !
Lời nói khéo léo mà nghiêm khắc của LVT đã làm cho bọn sứ thần nhà Tống phải hổ thẹn nhưng chúng vẫn cứ lằng nhằng . Chuộc tranh chấp đất đai này còn kéo dài nhiều năm về sau, có đến sáu lần thảo luận nữa mà không ngã ngũ . Nhưng LVT đã được triều đình rất kính phục . Ngay năm sau (1085) ông được thăng vượt cấp cử giữ chức Thái sư, quan đầu triều.
Nhưng có điều lạ là kết cục hành trạng của vị Thái sư Trạng nguyên này lại là những trang bi ki.ch. Một việc kỳ quặn đã xảy ra cho đến nay vẫn chưa ai giải thai'ch được rõ ràng. Vào một ngày nào đó (1) Vua Lý Nhân Tông cùng các triều thần dong thuyền dạo chơi trên Hồ Tay, để hưởng lạc thú cảnh thái bình , sau những ngày chiến tranh chấm dứt. Thuyền ra đến giữa hồ thì sương mu`tỏa xuống che cả đội thuyền ngự, ảo ảo mờ mờ. Đó là hiện tượng thiên nhiên quen thuộc ở hồ Tây. Bỗng ngay giữa thuyền ngự, một con cọp ở đâu xuất hiện, nhảy vào đám đông, các quan và bọn lính ngự lâm thị vệ hoảng hốt dạt ra, cọp lao vào vua Lý Nhân Tông như sắp sửa vồ ăn thịt . Người lái thuyền, một ông chài can đảm và linh hoạt, vội vàng ném vào đầu cọp một c'ai lưới - tình cờ ông vớ được bên cạnh mình. Lưới lùng nhùng bổ vây lấy cọp , làm cho nó lúng túng không thể thoát ra. Nhà vua và các tụy tùng được hoàn hồn, thì vưa lúc sương mù cũng giảm bớt, trông rõ mặt người. Bọn lính xông vào bắt cọp. Nhưng...không phải cọp ! Mà lại là...thái sư Lê Văn Thịnh đang loay hoay trong tấm lưới. Lập tức, LVT bị trói điều về để triều đình luận tội. Kết luận không ai nói cũng rõ : LVT đã bị buộc là dùng phù phép để hóa thành cọp , toan tiết vua cướp ngôi. Lẽ ra phải tru di tam tộc, nhưng Lý Nhân Tông nghĩ thương một vị đại thần đã có nhiều công lao trong các việc nội trị ngoại giao, lại là người có học hành uyên bác nên không bắt tội chết. LVT bị cách hết chức tước, đẩy vào Thanh Hóa. Ông trú ngụ tại đây và lập cơ ngơi mới ở vùng này. Có tài liệu cho rằng tiến sĩ Lê Quát (đời nhà Trần) là dòng dõi của ông.
Việc Th'ai sự Trạng nguyên LVT hóa hổ đến nay vẫn chưa ai giải thi'ch được cho chính sác. Các nhà nho, các sử thần phong kiến ngày xưa đều kết luận la LVT đã có tham vọng cướp ngội tội rất nặng . nHưng người ta vẫn không hiểu sao mà vua Lý lại xử phạt một cách khoan hồng. Một số nhà nghiên cứu đời sau không tin vào chuyện ph` phép đã giải thi'ch hiện tượng này một cách khác nhưng tên tuổi và giai thoại Trạng hóa cọp hay Thái sư hóa cọp thì vẫn tồn tại, lưu truyền cho tới bây giờ../.
(1) S'ach Việt sử lược nói là vào tháng 11. Sách Toàn thư nói là vào tháng ba, còn sách Việt Điện U Linh lại chỉ nói vào mùa thu. Cuộc đi chơi này, các tài liều cho biết là Lý Nhân Tông dạo chơi để xem đánh cá.
[color=blue]
Giai Thoại về Mạc Đĩnh Chi
MỘT CON NGƯỜI LIÊM KHIẾT
Mạc Đĩnh Chi (MĐC) thông minh từ nhỏ, lại rất chăm chỉ học hành, có tài ứng đối mau lẹ. Năm 1304, vua Trần Anh Tông mở khoa thi để kén người tài trong bốn cõi. Năm ấy, ông thi đỗ Trạng nguyên với điểm loại ưu. Hôm nhà vua ban cho mũ áo , rất ngạc nhiên thấy MĐC chỉ là một chàng trai có vóc người nhỏ, thấp , tướng mạo xấu xí. Vua Anh Tông có ý không muốn dùng ông. M-ĐC bực lắm, không nói gì cả, về nhà viết bài phú "Ngọc tỉnh liên " (Cây sen trong gie^'ng, ngọc ), ông tự ví mình như một thứ sen thần mọc trong gie^'ng ngọc .
Bài phú được dâng lên vua Anh Tông. Từng câu, từng chữ trong bài phú đã làm cho vua Anh Tông bừng tỉnh và thốt lên : "Mạc Trạng nguyên quả là bậc thiên tài, có tiết tháo ".
- MĐC là người rất liêm khiết, thẳng thắn, được tiện không lấy làm của riêng, giàu sang phú quí đối với ông không có ý nghĩa gì, cho nên được người đời ca tụng.
Một lần, vào năm 1323, vua Trần Minh Tông cho gọi viên quan nội thị đến nói nhỏ :
- Nghe nói các quan và dân chúng đều quen MĐC là người liêm khiết, thẳng thắn lắm. Trẫm định thử xem có đúng như thế chăng?
Nói đoạn , vua Minh Tông lấy 10 quan tie^`n đặt vào tay viên quan nội thị, rồi nghe sát tai thì thầm to nhỏ. Viên quan nội thị tâu : - Thần sẽ làm đúng như ý bệ hạ sai bảo.
Sáng ấy, Mạc dậy sớm hơn thường lệ. Trời còn chưa sáng rõ , ông đã tập xong hai bài quyền. Ông vươn người hít thở không khí trong lành của buổi sớm ban mai. Xong công việc thường lệ , ông lững thững vào nhà. Vừa bước lên bậc cửa, bỗng ông kêu lên kinh ngạc :
- Ô kìa ! tiền của ai đánh rơi mà nhiều thế kia?
Ông nhặt lên đếm, vừa tròn 10 quan. Ông thầm nghĩ : "Quái ! Đêm qua không có ai lại chơi, sao có tiền rơi? ". Ông vội vã khăn áo chỉnh tề, vào yết kiến nhà vua :
- Tâu bệ hạ, thần sáng nay có bắt được 10 quan tiền ở trước cửa nhà, hỏi khắp cả mà không ai nhận, thần xin trao lại để bệ hạ trả lại kẻ mất của.
Vua Minh Tông mỉm cười gật đầu :
-Không ai nhận tiền ấy thì người cứ lấy mà dùng...
-Thưa bệ hạ , tiền này không ít, người mất của chắc xót xa lắm, nên tìm người trả lại thì hơn.
- Nhà ngươi yêu tâm, cứ giữ lấy mà dùng. Tiền thưởng lòng chính trực , liêm khiết của nhà ngươi đấy.
M ĐC bấy giờ mới vỡ lẽ ra là nhà vua đã thử lòng ông. Ông chào tạ ơn trở về.
CÂU ĐỐI Ở QUAN ẢI
Năm 1308, M ĐC nhận chiếu chỉ của vua Anh Tông đi sứ nhà Nguyên. Da.o ấy vào đầu mùa hạ, tuy trời ít mưa, nhưng đã mưa thì mưa như đổ nước từ trên trời xuống; đường sá, đồng ruộng, nước trắng băng một màu, việc đi lại gặp trở ngại lớn. Chính vì vậy mà đoàn sứ bộ đến qua ải chậm mất hai ngày. Quan coi ải một mức không cho qua. M ĐC bực lắm, toan quay trở về nhưng nghĩ đến mệnh vua mà mình gánh vác chưa trọn nên nán lại xin đi. Ngẫm nghĩ hồi lâu , viên quan coi ải nói :
- Nghe nói ngài là người có tài văn chương, tài ấy sao không sử dụng lúc này? Bây giờ tôi ra một vế câu đối, nếu đối thông suốt, sẽ mở cửa ải; bằng không , xin mời ngài quay lại .
Yên lặng giây lát, viên quan nọ hí hửNg ra đối :
- Qu'a quan trì , quan quan bế, át qu'a khách qu'a quan.
(Đến cửa ải chậm, người coi cửa đóng cửa không cho khách qua )
Không cần suy nghĩ lâu, MĐC đối ngay :
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
(Ra đối thì dễ, đối lại thì khó, mời tiên sinh đối trước ).
Quan coi ải vái ông hai vái, tỏ ý phục tài, rồi mở cửa cho đi.
Giải Oan
Một bổi chiều hè, trời nắng như đổ lửa, Mạc ĐĩNh Chi và mọi người lúc ấy wa một qu'an nước ven đường. M.ac cho mọi người nghỉ lại. Chủ qu'an là một bà cụ già tóc bạc phơ, đon đả chào khách. Ca'nh đấy không xa có tiếng khơi nước trong xanh. Trên thành gie^'ng có viết 5 chữ : "Ngân bình, kiện thượng tị ". Thấy lạ, Mạc hỏi duyên do. Bà cụ chậm rãi kể :
- xưa có một cô gái bán hàng nước học hành giỏi, chữ nghĩa thông. Gần đây, có một anh học trò muốn ngấp nghé , cứ ngày ngày đi học về, lại vào uống nước tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh :
- Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên , mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa, Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện xin nâng khăn sửa túi , bằng không, thì xin chàng chớ qua đây làm gì nữa. Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân trông thấy cái ấm ti'ch bằng bạc, mới ra câu đối rằng :
" Ngân bình, kiện thượng tị "
(Bình ngọc, mũi trên vai. Ý nói cái vòi trên cổ ấm ).
Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được , xấu hổ qu'a, đành đâu đầu xuống gie^'ng đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế câu đối ấy lên thành gie^'ng để thách thức cả thiên hạ Nhưng xưa nay chưu ai đối được .
Nghe đến đây, Mạc cười :
- Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải ngậm oan nơi đáy gie^'ng ! Thôi để ta đối giùm giản oan ccho hồn kẻ thư sinh.
M ĐC bèn đọc :
" Kim tỏa, phúc trung tu"
(Khóa vàng, râu trong bụng. Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa ).
Sau đó, Mạc bèn sai người viết câu ấy lên thành gie^'ng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa.
Mọi người đều chịu ông đối giỏi.
Tiếng Sấm Đất
Tin Mạc Đỉnh Chi (MDC) , sứ giả An Nam rất hay chữ và đối đáp nhanh nhẹn, đã truyền đến triều đình nhà Nguyên . Cả triều đình xôn xao bàn tán, người thì bảo phải chơi cho y một vố thật đau, kẻ thì bảo phải làm cho y bẽ mặt trước công chúng. Cuối cùng , viên Thừa tướng bày mưu:
- Tâu bệ hạ, thần nghĩ ra một kế, mấy hôm nữa khi hắn ta đến, cả triều đình mũ áo cân đai chỉnh tề ra đón, sai hết cả cung phi, thị tì ra để mua một trận cười.
Vua Nguyên sốt ruột hỏi :
- Kế đó ra sao, hãy nói trẫm nghe đi đã.
- Tâu bệ hạ, trước cổng thành, ta cho đào một cái hố tròn, sâu, trên bị da thật căng để làm thành một cái trống đất đặc biệt. Chờ khi hắn đến, sai người gõ thật to, tiếng trống sẽ như tiếng động đất, như vậy , hắn ta và tùy tòng phải khiếp đảm, nhớn nhác, ngựa nghẽO kinh sợ chạy tán loạn.
Vua Nguyên và quần thần hí hửng khen kế đó rất hay. Và trống đất được làm rất khẩn trương.
Đoàn sứ giả đi đã lâu ngày, dầm mưa, dãi gió, gội sương đã nhiều. Ai nấy đều mệt mỏi rã rời, nước da rám nắng đen sạm. Con ngựa của M ĐC cũng kiệt sức lắm rồi, nó bước đi khấp khểnh, quất roi vào mông đen đét nó vẫn cứ ỳ ra . Khi trông thấy thành trì nhà Nguyên sừng sững trước mắt, mọi người vui sướng reo lên, trong người nhẹ hẳn như trút được g'anh nặng, nỗi mệt nhọc dần dần tan biến đi. Họ hồ hởi bước tới cổng thành, lúc ấy vào buồn chiều tà. Cửa thành cờ xí rợp trời, người đông nghiẹt đứng giạt hai bên. Vua Nguyên mặc áo bào đỏ, ngồi chễm chệ trên đỉnh gác cổng thành.
M ĐC và đòn sứ bộ vừa đi tới, thì bỗng tiếng trống đất bu.b bục beng, bu.c bục beng dội vang dưới chân. Ai nấy đều ngơ ngác. Con ngựa của M ĐC không biết chạy chỗ nào, sợ qu'a ngã qu.i xuống đất. CẢ triều đình nhà Nguyên reo hò ầm ĩ. Vua Nguyên khoái chí cười tít cả mắt lại, và đắc chí lắm . Lúc ấy M ĐC cũng bối rối , nhưng trấn tĩNh lại đưỢc ngay không thèm đếm xỉa đến vau Nguyên đang ngồi trên cổng thành , cau mặt lại nói :
- Có gì mà các ngài cười? tôi biết lắm, mùa này làm gì có sấm đất . Có tiếng động lạ, tôi cho ngựa qu`i xuống lắng tai nghe xem có phải sấm đất chăng?
Từ trên lầu cao vua Nguyên phải gật đầu khen :
- An Nam Tr.ang Nguyên quả là nhanh chí .
Bài Thơ Đề Quạt
M ĐC đến kinh đô nhà Nguyên vào cuối mùa hè. Cái nắng ở đây cũng chói chang và oi bức ghê gớm. Ông và sứ Cao Ly (triều Tiên ( cùng ra mắt vua Nguyên vào một buổi chiều . Chính lúc ấy cũng có một sứ thần Tây Vực ( gồm các nước vùng Tân Cương , Miến Điện ) đến dâng một chiếc quạt lông rất đẹp. Vua Nguyên bảo :
- Nhân có quạt dd.ep, trẫm xin mời hai sứ thần An Nam và Cao Ly mỗi người làm một bài thơ thật hay đề vào quạt !
M ĐC lấy ấy còn đang mãi suy nghĩ tứ thơ thì sứ Cao Ly đã cầm bút viết thoăn thoắt . Ông liếc thấy sứ thần Cao Ly viết (tạm di.ch )
Nắng nôi oi ả người tự Y, Chu (Y Doãn một tướng giỏi đời nhà Thương, Chu Công, một người hiền ở đời nhà Chu ).
Rét mướt căm căm ngươi là Bá, Thúc (Bá Di, Thúc Tề: hai người con vua Ân, VŨ Vương diệt nhà Ân lập nhà Chu. Hai anh em ở ẩn trên núi, quyết không ăn gạo nhà Chu, hái rau vi ăn, cuối cùng chết đói ).
Thế là nhân ý ấy, ông phát triển thêm thành bài thơ hoàn chỉnh (tạm di.ch) :
Lúc trời oi ả như lò lửa
Người tựa Y, Chu bậc cự nho.
Khi mùa đông đến trời băng giá ,
Ngươi hệt Di, Tề rét co ro.
Ôi !
Lúc dùng chuyên tay, khi xếp xó ,
Ta với người đều như thế đó.
Vua Nguyên xem xong bài thơ, gật đầu khen mãi và phê cho "Lưỡng quốc Trạng nguyên " (Trạng nguyên hai nước ).
Nhưng vua Nguyên nào hiểu được ý thơ của ông. Bài thơ thực chất đầy giọng bất mãn , phản ảnh cảm xúc bực dọc, khó chịu của người trí thức trong chế độ phong kiến ấy. Vua quan phong kiến đối đãi với người tài khi hậu, khi bạc, không khác gì đối với cái quạt, khi cần chuyên tay, không cần thì xếp xó !
CHuyện Xảy Ra Trong Phủ TỂ TƯớng
một hôm, nhân việc quan rỗi rãi, MDC vào thăm phủ Thừa tướng nhà Nguyên. Trong phủ, trang hoàng lộng lẫY, có treo một bức trướng to tướng , trên thêu một con chim sẻ đậu cành trúc, trông tựa chim thật. Ông lại gần xem, Thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên cười.
- A , sứ thần "An Nam" thấy lạ lắm phải không? Ha ha!
MDC vội thẳng tay kéo soạt, bức tường rách toang, tiện tay xé luôn mấy cái nữa, bức tường rách tung ra từng mảnh rơi lả tả.
- Sao ngài lại xé? Sao ngài lại xé bức trướng qu'i na`y? Một viên quan hốt hoản g kêu lên.
MDC nghiêm nét mặt lại , bảo :
- Tôi thấy người xưa chỉ vẽ cây mai, và chim sẻ thôi. Vì trức là quân tử, chim sẽ là tiểu nhân, nay Thừa tướng lấy trúc với sẽ thều vào trướng, như vậy là tiểu nhân ở trên quân tử. Tôi sợ đạo tiểu nhân lớn hơn, đạo quân tử mòn đi, nên vì thánh triều trừ bỏ nó đi, chứ thứ ấy quí giá nỗi gì ?
Viên Thừa tướng nọ ức qu'a, song không có cớ gì để quở trách hoặc bắt đền được. Bấy lâu nay, ông ta đã từng tự hào có bức trướng dd.ep và sang trọng này, bức trướng từng tô điểm căn phòng thêm li.ch sự , nay bỗng dưng rách tan thành, thật là tai bay vạ gió. Ông ta tiếc rẻ mãi, nhưng chỉ da'm xuy't xoa trong lòng.
Tối hôm ấy, quan Thừa tướng mời MDC đến uống trà và ngâm vịnh. Ông ta cho bày tiệc trà ở giữa sân để tiếp khách và hóng mát . Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc, chủ và khách ngồi uống trà thân mật, thỉnh thoảng M.ac lại ngâm một câu thơ, chủ cũng ngâm thơ hoại lại . Hai người cân tài cân sức, chẳng ai chịu kém. Đêm càng khuay, cả chủ lẫn kah'ch càng say mê gửi gắm lời thơ của mình vào cảnh tĩnh mi.ch. Khác lúc nào trong lòng cũng thanh thản, thoải mái thả tâm hồn thơ một vào thơ, vào cảnh thiên nhei^n. Chủ đôi lúc lại nhớ đến bức trướng rách trong lòng ấm ức, bực vì gặp hải ông khách qu'a thô bạo . Đêm đã khuay, khi tiệc sắp tan, ông ta đinh trả miếng lại chuyện bàn chiều, liền cầm một chiếc chén, lý sự với Mạc ràng :
- Cây kỷ là gỗ, cái ch'en không phải là gỗ, tại sao lại lấy gỗ làm ch'en?
MDC thấy câu hỏi thật phi lý, vớ vẩn, lý sự , ông bèn cười mà hỏi lại rằng :
- THưa ngài thừa tướng! Ngài hãy giải th'ch: Phật không phải là người, thầy tăng là người, vậy cái gì đã khiên cho thầy tăng thờ Phật?
Thừa tướng cười ta xí xóa. Hai người dắt tay nhau đi vào trong nhà, . Vừa bước chân lên bực cửa, thừa tướng lại ra đối :
- An khử nữ dĩ thỉ vi gia
(Chữ an bỏ chữ nữ đi, thêm chữ thỉ vào thành chữ gia (nhà)).
MDC thấy đây là một lối chơi chữ rất thâm hiểm của ông ta. Nói như vậy có nghĩa là nhà Nguyên cần phải xóa bỏ nước An Nam, nhập thành châu chuyện của họ . Mạc lập tức đối lại rất sắc bén :
- Tù xuất nhân, lập vương thành quốc
(Chữ tù bỏ chữ nhân đi, thêm chữ vương vào thành chữ quốc ).
Thực ra là chữ đối chữ, ý đối ý, dân ta nhất định xóa bỏ ách áp bức, đèn nén của nước lớn, xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ.
[b]Những Viên Đạn Ngọc
Một hôm, vào buổi sáng đầu thu, khi mặt trời đỏ ửng như qu?a cầu lửa vừa nhô lên khỏi chân trời xa, những giọt sương như những hạt ngọt trong suốt treo trên những khóm cỏ hai bên đường. MDC cưỡI ngực đủng đỉnh ra ngoài thành dạo cảnh. Khi gặp ông, người ta vẫn xì xào bàn tán. Kẻ thì chê ông xấu xí, người thì bảo ông lùn tịt, bé tí, kẻ thì bảo : trong triều đình này, đã ai ăn đứt được ông ta. Tuy vậy, hôm nay so với ngày mới sang, người ta không ai dám xem thường ông nữa. Vì ông đã là lưỡng quốc Trạng nguyên, tiếng đồn vang khắp bốn phương.
Mặc cho người ta bàn tán, ông cứ thúc ngựa đi, ngẩn mặt đón gió thu mát lạnh, trong lòng vô cùng thoải mái . Ông đính bụng sẽ thăm đây đó ít ngày rồi còn chuẩn bị về nước, hoàn thành chuyến đi đáng ghi nhớ này. Đang mãi nghĩ miên man, bỗng ông lại gặp Thừa tướng cũng đi đâu về sớm. Ông ta dường như còn cay cú với chuyện cũ, nên thấy Mạc Đĩnh Chi, ông ta dừng ngựa, chỉ vào mặt trời lúc đó vừa mới nhô lên khỏi ngọn cây mà nói nói rất văn hoa rằng :
- Mặt trời như qu?a cầu lửa, mây như khói, ánh nắng ban mai thiêu ch'ay con trăng. Tiên sinh thấy thế nào, có đúng chăng?
MDC biết ông ta chơi chữ, muốn ví nước Nguyên như mặt trời có ánh nắng chói lọi , còn nước Nam chẳng qua cũng như mặt trăng, có ánh nhàn nh.at, yếu ớt mà tho^i. X'et lời nói, biết được ông ta khinh thường nước Nam nhỏ b'e, yếu hèn. MDC không chịu kém, ông đã dùng qui luật của tự nhiên để ra đòn lại rát hợp lý mà sâu :
- Ngài có thấy không? Nếu như mặt trời là hòn lửa, thì mặt trăng là cung tên, những vì sao là những viên đạn ngọc, khi hoàng hôn buông, cũng chính là lúc giương cung tên bắn rớt mặt trời.
Câu trả lời thật văn hoa và đầy hình tượng, tỏ ra dân tộc ta không bao giời chịu khuất phục, luôn luôn có khí phách anh hùng.
Viên thừa tướng phục ta`i, quất ngựa đi thẳng
Tài Ứng Đối
Lại một lần, mấy viên quan nah` Nguyên cho đào một hố sâu, đan phênh đậy lên, rồi lấp một lần đất mỏng. Hôm sau họ cùng đến mời MDC đi thăm cảnh. Mạc nhận lời ngay, khi đến bờ sông, họ nhường cho ông lên cầu sang sông trước . Nhưng vừa toan cất ngựa lên cầu thì sụp ngay xuống hố sâu. Mấy viên quan nọ cười nói :
- Chúng tôi ra cho một vế câu đối, nếu ông đối được thì sẽ kéo lên.
MDC gắt : - Thì các ông cứ ra đối chứ sao !
Một người bèn đọc :
- Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tư đạo (gỗ thẳng , cẳng ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng ).
Câu này lại toàn là tên người ghép lại : Can Mộc, Hoành Cừ, Lục Giả, Tương Như, Tư Đạo, đều là những nhân vật nổi tiếng xưa nay của Trung Quốc. MDC ở dưới hố, nhân trước khi ngã, có trông sang bên kia sông, thấy một cái đình tựa ở chân núi đối lại :
- Đại đình, an thạch , vọng chi nghiễm nhược thái sơn (Đình to, đá vững, nhác trông ngỡ Thái Sơn ) . Câu này cũng toàn tên người ghép lại và cũng là những người nổi tiếng xưa nay: Đại Đình, An Thạch, Vọng Chi, Nghiễm Nhược, Thái Sơn.
Mấy viên quan nọ phục tài ứng biến mau lẹ của họ Mạc, bèn xúm nhau đở ông lên khỏi hố.
Bài Điếu Văn
Chỉ còn mấy hôm nữa là đến gna`y về nước. Công việc chuẩn bị cho ngày về thật gấp rút. Nào là phương tiện đi phải lo cho đủ và tươm tất, nào là lương ăn đường, nào là phải chuẩn bị buổi ra mắt nhà vua vào ngày cuối cùng, sao cho li.ch thiệp và vui vẻ, nào là còn phải đi chia tay các bạn bè. Tất cả dồn lại tới tấp, khiến MDC chẳng lúc nào rảnh rang được một chút. Ông còn đang lo tính, thu xếp công việc thì sứ thần của trei^`u đình đến nói:
- Thừa ngài, sáng nay không may bà trưởng công chúa quá cố, nhà vua vô cùng thương tiếc, lúc nào cũng túc trực bên linh cữu. Cả triều đình bận rộn chuẩn bị cho đám tang, người nào việc ấy cả. Ngài là Trạng nguyên của triều đình că"c cũng phải đóng góp một phần nào vào công việc.
MDC hỏi :
- Ông nói đi, tôi phải làm gì bây giờ?
- Thưa, ngài có thể viết một bài điếu văn để đọc trước đám trang, lời lẽ sao cho giản dị mà súc ti'ch. Đó cũng là điều mong muốn của nhà vua.
- Thôi, ông hãy vễ đi, tôi sẽ làm tròn bổn phận.
- Công việc chuẩn bị cho ngày vễn vẫn được tiến hành. Người ta chỉ thấy ông thu xếp mọi việc rất gấp rút không hền bận tâm đến việc viết bài điếu văn. Có người lo lắng hỏi, ông cười bảo :
- Được, đâu sẽ có đó. Không thấy ta đã viết rồi đó sao?
Ông chỉ vào tơ giấy đặ trên bàn. Mọi người hết sức ngạc nhiên thấy trên tờ giấy chỉ biết bốn chử "nhất" (1). Một bài điếu văn ư? Sao chỉ có ngần ấy chữ được . Ai cũng đặt câu hỏi như vậy, nhưng không thể tự trả lời được...
Mấy hôm sau, đám tang dược cử hành rất long trọng, tất cả văn võ bá quan trong triều đình đều có mặt đông đủ. Sau điệu nhạc "lâm khốc" , mọi người đều thương xót sụt sùi. Khi ấy, MDC khoan thai đi đến be^h linh cữu, tay dâng tờ điếu văn. Cả triều đình tròn mắt ngạc nhiên và hồi hộp vì thấy trên tờ giấy chỉ có một sữ "nhất" to tướng. MDC đằng hắng lấy giọng đọc :
Thiên thượng nhất đóa văn
Không trung nhất điểm tuyết
Lăng v nhất chi hoa
Quảng hàn nhất phiến nguyện
Y! vân tán, tuyết tiêu , hoa tàn, nguyệt khuyết. (Theo sách "thuyết phu tùng đàm" thì câu này của Dương Ức nhà thơ đời Đường ).
(trên trời một đóa mây
Không trung một giọt tuyết
Một nhành hoa trong vườn thượng uyển
Một mảnh trăng trong cung Quảng Hàn
Thân ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết ).
Ông đọc dứt lời, mọi người đều nghẹn ngào xúc động. Tuy chỉ có mốn chữ "nhất", nhưng ông đã đọc thành mo^.t bài súc ti'ch, miêu tả bà trưởng công chúa như áng mây đẹp bồng bềnh trên trời xanh, như một giọt tuyết tră"ng giữa trong trung, như nhành hoa dd.ep trong vườn vua, như mảnh trăng sáng trong cung Quảng Hàn. Này bà chết đi là tổn thất rất lớn, cũng như áng mây dd.ep tản tác, giọt tuyết tan đi, bông hoa tàn rữa, vần trăng khuyết mà thôi. Thương tiếc thật đấy, nhưng đó là tạo hóa sinh ra.
----------------------------
[b]Đọ tài lần cuối
S'ang nay, MDC khăn mũ chỉnh tề vội vã vào chầu lần cuối để tạ biệt vua Nguyên về nước. Trong lòng ông mừng lắm, suỐt đêm qua ông không sao chợp mắt được, cứ nghĩ đến lúc gặp gỡ người thân, gặp bạn bè, lòng lại rộn lên xao xuyến.
Vào tới công đường, ông đã thấy các quan văn võ tề tựu đông đủ. Ông rảo bước lên hàng đầu tâu lớn :
- Dạ muôn tâu bệ hạ ! Thần có lời từ biệt, xin chúc bệ hạ vạn thọ vô rương (sống lâu muôn tuổi ).
Suy nghĩ giây lát, từ trên gnai vàng, vua Nguyên phán xuống:
- Bấy lâu nay, nhà người lưu tại Yên Kinh, thăm phong cảnh, xem xét kỹ lưỡng mọi nơi, ngày nào cũng cưỡi ngựa đi trên đường cái quan, thế ngươi có biết mỗi ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường cái quan không?
Trên đường phố ở kinh đô Yên Kinh rộng lớn này hàng ngày có biết bao nhiêu người qua lại, làm sao có thể biết được? thật ra là một câu hỏi oái oăm, nan giải, Mạc nghĩ vậy .
Thấy MDC ngập ngừng, vua Nguyên và quần thần ra vẻ hí hử, tưởng rằng phen này Mạc phải chịu bí.
Nhưng Mạc cười nói :
-Tâu bệ hạ, có hai người chứ mấy?
Vua Nguyên ngạc nhiên hỏi :
- Người nói sai rồi. Sao lại chỉ có hai người thôi?
MDC thưa :
- Tậu bệ hạ, phàm là những kẻ qua lại trên đường cái quan kinh đô này, thì chẳng vì danh cũng l lợi i , vậy há chẳng phải chỉ có hai người, một vì danh , một vì lợi sao?
Vua Nguyên trong lòn gphu.c lắm, saong không nói ra. Vậy y lại còn có ác ý muốn lưu MDC tại Yên Kinh không cho về Nam, bèn bày kế đưa Mạc vào trong :
- Có một chiếc thuyền trong dó chỉ có vua, thầy học cha mình (quân, sư, phụ ) bơi đến giữa sông chẳng may bị sóng lớn đắm thuyền. Khi ấy, ngươi ở trên bờ nhảy xuống bơi ra cu**'u, nhưng chỉ có thể cứu được một người thôi, thế thì người cứu ai?
Với câu hỏi hóc búa này, vua Nguyên cho rằng nhất định Mạc sẽ mắc phải tội lớn. Vì rằng nếu Mạc nói chỉ cứu vua, ắt mắc tội bất hiếu với cha, bất nghĩa với thầy học Nếu nói chỉ cứu thầy, thì mắc tội bất trung với vua, bất hiếu với cha. Tội ấy quả đáng phải chém đầu. Nếu chỉ cứu cha thì lại mắc tội bất trung, bất nghĩa. Nếu không nói gì tức là không cứu ai, tội ấy càng nặng.
Quần thần nhà Nguyên đắc ý đưa mắt nhìn nhau, thầm thì bàn tán, cho rằng phen này họ Mạc nhất định mắc tội chém đầu, chứ chẳng chơi
NHưng MDC không hề tỏ ra lúng túng, mà ông dõng dạc trả lời :
-Thần đứng trên bờ, thấy thuyện bị đắm tất phải vội vả nhẩy xuống bai ra cứu, hễ gặp ai trước thì cứu ngưỜi ấy, bất kể người ấy là vua, thầy hay cha mình .
Cả triều đình trố mắt thán phục trưỚc câu trả lời ấy.
(Xin chép thêm dưỚi đây bài phú "Hoa Sen gie^'ng giọc" nổi tiếng của MDC )
Ngọc Tỉnh Liên Phú
Khách hữu:
Ẩn kỹ cao trai; hạ nhật chính ngọ.
Lâm i'ch thủy chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã ký phục; hoàng ký quan.
Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lầm ti.ch cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai; viết :to`n Hoa san
Nãi thụ chi kỷ; nãi sử chi tạo
Phá Đông - lăng chi qua; tiến Dao trì chi quả.
Tái ngôn chi lang; tái tiếu chi thả.
Ký nhi mục khách viết : tử phi ái liên chi quân tử dã?
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian ;
Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi câu kỹ; phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái họa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết :
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng; lãnh tỉ sương hề cam tỉ mật giả dã?
Ti'ch văn ký danh; kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hàn hiên; nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất
Nãi phất thập dạng chi tiên, tỉ ngũ sắc chi bút
Dĩ vi ca viết :
Giá thủy tinh hề vi cung ; tạc lưu li hề vi hộ.
Toái pha lê hề vi nên ; sái minh châu hề vi lộ.
Hương phức úc hề tằng tiêu; đế văn phong hề nhữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương ; Tố Nga phân hề nhữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu : vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vì hề trung lưu; hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi bộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a ; quả hà thường hồ phong vũ .
Khủng phương hồng hề dao lạc ; mỹ nhân lai hề tuế mộ.
Đạo sĩ văn nhi thán viết :
Tử hà vi ai thả oán dã?
Độc bất kiến Phượng hoàng tr`i thượng chi tử vì, Bạch ngọc đường tiền chi hồng dược?
Quýnh địa vị chi thanh cao ; ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều ; tử độc hà chi hồ tao khách nhân chi quốc?
Ư thị hữu cảm tư thông, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi ; canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm , kính hiến Ngọc tỉnh liên chi phú
dỊCH NGHĨA :
PHÚ HOA SEN GIE^'NG NGỌC
Khách có kẻ :
Nhà cao tựa ghế ; trưa hạ. nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung
Chợt có người :
Mặc áo quê ; đội mũ vàng .
Tiên phong đạo cốt ; khác xa trần gian.
Hỏi : "ở đâu lại " - Rằng "Từ Hoa san"
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông lăng đem cắt ; quả Dao trì đem mời
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.
DDao.n rồi, trông khách mà rằng :
"Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?"
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục ; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh ; mẫu đơn đất Lạc nào tầy.
Giậu Đào lệnh cúc sao ví được ; vườn Linh QUân lan khó sánh thay !
Aa^'y là giống sen gie^'ng ngọc ở đầu núi Thái họa đây "
Khách rằng:
"Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo : "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng , lạnh như sương mà ngọt như mật " đó ử
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm să'c thấm ngay.
Làm bài ca rằng :
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây ,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi ,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân ".
Đạo sĩ nghe mà than rằng :
"Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy : hoa tử vi trên ao Phượng hoàng,
Hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả ; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý : cõI tao nhân anh đi mãi sao đảng "
Khách bấy giờ :
Nghe lọt mấy lời ; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai ;
Họa câu phong đầu của Hàn Dũ
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng ,
Kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên phú ".
(PHan Võ di.ch )
(HTTVVN II)
(Dựa theo một bản in cũ )
./. hết MDC
Học vị Trạng nguyên là học vị cao nhất, giành cho người đỗ đầu kho thi Đình.
Người đi học trước đây phải qua ba kỳ thi lớn (không kể những cuộc sát hạch) gồm có :
Thi Hương :
Là thi ở các trấn, các tỉnh. KHông phải tỉnh nào cũng được tổ chức thi Hương. Người ta chia ra làm nhiều vùng, gọi là các trường. Ba bốn (hoặc nhiều hơn) trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định , trường Hà là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Hà Nội v.v... Tùy theo qui định của các triều ddia.i, các trường thi gồm các kỳ: đệ nhất, đê. nhị, đệ tam, đệ tứ. Đỗ được tất cả các kỳ thi là đỗ thi Hương.
Những người đỗ thi Hương đạt học vị Cử nhân và Tú tài (xưa gọi là Hương cống, Sinh đồ ). Số thí sinh kể có hàng nghìn, nhưng số lấy đỗ chỉ có 72 tú tài và 32 Cử nhân. Những người đỗ Cử nhân sẽ được bổ dụng ra làm quan, đầu tiên có thể được làm việc ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn. Những người đỗ Tú tài thì chưa được sử dụng đến, dó đó mà có nhiều người loay hoay thi cử nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Lần thứ nhất đỗ gọi là ông Tú, lần thứ hai vẫn đỗ Tú tài thì gọi là ông Kép, lần thứ 3 vẫn thế thì gọi là ông Mền (có nơi gọi ngược lại) v.v... cũng vẫn chưa được nhận chức vụ gì cả (trừ một vài trường hợp được tiến cử hay được nhà vua biết đến, nhưng cũng chỉ tuyển dụng vào các cơ quan chuyên môn chứ không vào chính ngạch quan cai trị ).
2. Thi Hội
Kỳ thi Hội là kỳ thi ở cấp nhà nước. Số lượng thi Hội cũng rất đông, tất cả những người đã đỗ Cử nhân đều được dự thi. Có người đã ra làm quan cũng được thi để giành học vị cao và được bổ dụng cao hơn. Những người đỗ thi Hội đều vào thi một kỳ thi cuối cùng rồi mới chính thức nhận học vị. Kỳ thi ấy gọi là Thi Đình.
3. Thi Đình
Gọi là thi Đình, có nghĩa là thi ở sân đình nhà vua. Nơi thi là một cái nghè lớn, nên sau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè . Nhà vua trực tiếp ra đầu đề , và sao khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài , cân nhắc điểm sổ , chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ. Có ba loại học vị trong kết quả thi Đình, được xếp vào ba cái bảng gọi là giáp : (chữ khoa giáp hay khoa bảng từ đây mà ra).
a. Đệ I giáp : Những người giỏi 1 được ghi tên vào bảng này, gọi là các ông Tiến sĩ cập đệ . Bảng này chỉ lấy có 3 người đệ nhất giáp : đệ nhất danh, đệ nhị danh và đệ tam danh.
b. Đệ II giáp : Những người được ghi tên vào bảng này gọi là các ông Tiến sĩ xuất thân . Còn một tên gọi khác để chỉ các ông này, gọi là hoàng giáp . Vậy những người đỗ hoàng giáp , tức là đỗ Tiến sĩ xuất thân , được ghi tên vào bảng thứ 2 : đệ nhị giáp.
c. Đệ III giáp : Trừ những người đỗ I giáp, nhị giáp ra, còn những người xuất sắc kah'c đều ghi tên vào bảng này, gọi là bảng đệ tam giác. Học vị của họ là đồng Tiến sĩ xuất thân (hoặc chỉ gọi gọn là đồng Tiến sĩ ) Tiếng thông thường gọi vị này hay vị kia là đỗ tam giáp, có nghĩala` đỗ đồng Tiến sĩ .
Ở triều Nguyễn, còn có thêm học vì phó bảng , để ghi tên những người, thực ra học lực cũng xứng đáng là Tiến sĩ, nhưng vì có một thiếu sót đó nên không được ghi tên vào bảng chính, mà chỉ ở bảng thứ. Tuy vậy, đây vẫn là những người đã đỗ đại khoa, cũng vào hàng ngũ các ông nghè.
-------------------------------------------------------------------------------------
Số lượng người đực ghi tên vào đệ nhất giáp, đọi là đỗ Tiến sĩ cập đệ, chỉ có 3 người. Người đứng đầu là Trạng nguyên, người thứ hai là Bảng nhãn, thứ 3 là Th'am hoa. Tên gọi ông Trạng , ông Bảng, ông Thám là từ đây mà có.
Đỗ Trạng Nguyên là một vinh dự rất lớn. C'ac ông nghè, từ đời nhà Lê đã được tôn vinh. Có những lễ xướng danh, lễ vinh qui (vua ban cờ biển cho rước về huyện làng ) và được ghi tên vào bia đá đặc ở Văn Miếu. Đỗ TrTr.ng nguyên, tất nhiên được trọng vọng nữa. Đỗ Tiến sĩ, được bổ dụng đi làm quan, tối thiểu cũng làm quan tri phủ. Trạng nguyên , Bãng nhãn, Thám Hoa thì ở những chức vụ cao hơn.
------------------------------------------------------------------------------------
Ở những kỳ thi Đình, có những năm nhà nước không lấy Trạng nguyên. Đó là vào những trường hợp, khi chấm bài, người ta thấy những người đi thi không đạt được điểm số nhất định. KHông đạt điểm để có học vị Trạng nguyên (TN). nhưng điểm số vẫn cao hơn tất cả những người thi Đình ấy, nên vẫn là đỗ đầu, gọi là Đình nguyên . Người đỗ đầu các kỳ thi Hội (đỗ đầu trong các Cử nhân gọi là Hội nguyên ). Do đó, có người là Bãng nhãn, Tháo hoa hay Tiến sĩ mà số điểm cao nhất trong kỳ thi Đình, thì được gọi là Đình nguyên Bảng nhãn, Đình nguyên Thám Hoa, Đình nguyên Hoàng Giáp, Đình nguyên Tiến sĩ. Họ không phải là TN, nhưng vẫn có vinh dự là người đỗ đầu, là bậc nhất trong tất cả các ông nghè ở kỳ thi đó. Vinh dự của họ cũng lớn và thất ra họ cũng đáng là TN trong kỳ thi không có Trạng. Những người như Lê Quí Đôn, (Đình nguyên Bảng nhãn) hay một số vị Đình nhguye^n dưới triều Nguyễn (triều này không lấy trạng mà chỉ lấy Bãng nhãn, Thám hoa ), thực chất cũng xứng đáng là TN.
Trong số những người đỗ đầu, có người có học lực rất xuất sắc, ở các kỳ đều đỗ đầu (thi Hương, thi Hội, thi Đình ). Nếu đỗ đầu hay kỳ thi gọi là Song nguyên đỗ đầu 3 kỳ thi gọi là Tam nguyên . Chẳng hạn như ông Vũ Dương (TN 1493) ông Yên Đỗ Nguyễn Khuyến (hoàng giáp 1871) vv.v... đều được gọi là các ông Tâm Nguyên.
Trong sách này, chúng tôi ghi thêm danh sách các vị Đình nguyên ấy (cả những người chỉ thấy sử sách nói là đỗ đầu cả nước mà không thấy được nêu học vị là gì ), đễ tỏ niềm trân trọng đối với tài năng và công phu học tập của các vị . Có nhiều giai thoại truyền văn về sự thiệt thòi của những vị này, nên không ghi tên của họ có lẽ là một bất công. (thí dụ như trường hợp ông Vũ Diễm, đình nguyên hoàng giáp (1739). Truyện kể rằng , ông là người rất lỗi lạc, Phương ngôn có câu : bút Cấm Chỉ, sĩ Thiên Lộc, là nói về nho sĩ đất Thiên Lộc có tiết giỏi nhất nước. Vũ Diễm quên ở Thiên Lộc (Nghệ An). NHưng khi ghi tên ông trên danh sách đỗ , đáng lẽ viết : đệ nhất giáp, đệ nhất danh, thì nhà vua lại ghi lầm là đệ nhị giáp , đệ nhất danh,. Vì thế mà ông không được mang danh hiệu Trạng. )
GIAI THOẠI VÀ TÁC PHẨM
Một số Trạng Nguyên chính thức và không chính thức
--------
Giai thoại về Lê Văn Thịnh
Trạng Hóa Cọp
Từ cuối thế kỷ XI, nhà Lý đã chú ý đến nho học, cho mở khoa thi đầu tiên (Ất Mão 1075) và chọn được vì TN khai khoa ở nước ta. Đó là TN Lê Văn Thịnh (LVT) , người vùng kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc ).
Trạng nguyên LVT nổi tiếng thông minh, đỗ đại khoa xong là có chỉ triều đình vời ra làm quan ngay. Ông đưỢc vào cung dạy Lý Nhân Tông - từ thuở b'e, rồi tiếp đó đãm nhiệm các chức trách ở triều đình, dần dần lên đến địa vị Thái sư.
Năm 1084, sau cuộc chiến thắng quân Tống , vua Lý va nguyên soái Lý Thường Kiệt thực hiện chính sách ngoại giao không khéo, xin cùng với Tống giảng hòa sai sứ thông thượng Những việc đầu tiên thảo luận là vấn đề trao trả tù binh, phân chia địa giới, đòi lại những vùng đất mà quân Tống đã lấn chiếm trước đây. LVT - lúc này còn giữ chức lang trung binh bộ, được cử làm trưởng đoàn sang Tống đàm phán. Hội nghị đã họp vào tháng 7 năm Giáp Tý (1081). Phía nhà Tống cử viên sứ giả Thành Trạc đứng đầu. Nội dung cuộc tranh luận là bàn về chương giới thuộc hai châu Quy Hóa và Tuận An, cụ thể là đất Vật dương, Vật ác .
Chính tại cuộc hội nghị này, LVT đã nổi bật lên là một nhà ngoại giao kiên quyết lý lẽ vững vàng, thái độ cứng rắn. LVT nói rõ hai vùng đất ấy là của nước ta đã bị bọn tù trưởng ở biên giới nhân lúc lộn xộn đem nộp cho nhà Tô"ng để mong tránh nạn binh hỏa nay xin nhà Tống trả lại. Phái đòn Thành Trạch không chịu lận luận rằng :
- Những đất khi giao tranh đã bị chiếm bay giờ đem trả lại thì đúng . Còn những đất mà người địa phương coi giữ đã xin quy phụ về thiên triều, thí không có lý gi phải trả lại .
LVT trả lời :
- Đất thì có chủ . Bọn được giao cho coi giữ mang nộp và trốn đi thì đó là đất ăn trộm . Chủ giao cho mà lại trộm của chủ, là phạm tội không tha thứ được . Kẻ ăn trộm và kẻ tàng trữ vật trộm cắp đều sai, huống chi bọn chúng lại mang đất trộm đến dâng là làm bẩn sổ sách của thiên triều !
Lời nói khéo léo mà nghiêm khắc của LVT đã làm cho bọn sứ thần nhà Tống phải hổ thẹn nhưng chúng vẫn cứ lằng nhằng . Chuộc tranh chấp đất đai này còn kéo dài nhiều năm về sau, có đến sáu lần thảo luận nữa mà không ngã ngũ . Nhưng LVT đã được triều đình rất kính phục . Ngay năm sau (1085) ông được thăng vượt cấp cử giữ chức Thái sư, quan đầu triều.
Nhưng có điều lạ là kết cục hành trạng của vị Thái sư Trạng nguyên này lại là những trang bi ki.ch. Một việc kỳ quặn đã xảy ra cho đến nay vẫn chưa ai giải thai'ch được rõ ràng. Vào một ngày nào đó (1) Vua Lý Nhân Tông cùng các triều thần dong thuyền dạo chơi trên Hồ Tay, để hưởng lạc thú cảnh thái bình , sau những ngày chiến tranh chấm dứt. Thuyền ra đến giữa hồ thì sương mu`tỏa xuống che cả đội thuyền ngự, ảo ảo mờ mờ. Đó là hiện tượng thiên nhiên quen thuộc ở hồ Tây. Bỗng ngay giữa thuyền ngự, một con cọp ở đâu xuất hiện, nhảy vào đám đông, các quan và bọn lính ngự lâm thị vệ hoảng hốt dạt ra, cọp lao vào vua Lý Nhân Tông như sắp sửa vồ ăn thịt . Người lái thuyền, một ông chài can đảm và linh hoạt, vội vàng ném vào đầu cọp một c'ai lưới - tình cờ ông vớ được bên cạnh mình. Lưới lùng nhùng bổ vây lấy cọp , làm cho nó lúng túng không thể thoát ra. Nhà vua và các tụy tùng được hoàn hồn, thì vưa lúc sương mù cũng giảm bớt, trông rõ mặt người. Bọn lính xông vào bắt cọp. Nhưng...không phải cọp ! Mà lại là...thái sư Lê Văn Thịnh đang loay hoay trong tấm lưới. Lập tức, LVT bị trói điều về để triều đình luận tội. Kết luận không ai nói cũng rõ : LVT đã bị buộc là dùng phù phép để hóa thành cọp , toan tiết vua cướp ngôi. Lẽ ra phải tru di tam tộc, nhưng Lý Nhân Tông nghĩ thương một vị đại thần đã có nhiều công lao trong các việc nội trị ngoại giao, lại là người có học hành uyên bác nên không bắt tội chết. LVT bị cách hết chức tước, đẩy vào Thanh Hóa. Ông trú ngụ tại đây và lập cơ ngơi mới ở vùng này. Có tài liệu cho rằng tiến sĩ Lê Quát (đời nhà Trần) là dòng dõi của ông.
Việc Th'ai sự Trạng nguyên LVT hóa hổ đến nay vẫn chưa ai giải thi'ch được cho chính sác. Các nhà nho, các sử thần phong kiến ngày xưa đều kết luận la LVT đã có tham vọng cướp ngội tội rất nặng . nHưng người ta vẫn không hiểu sao mà vua Lý lại xử phạt một cách khoan hồng. Một số nhà nghiên cứu đời sau không tin vào chuyện ph` phép đã giải thi'ch hiện tượng này một cách khác nhưng tên tuổi và giai thoại Trạng hóa cọp hay Thái sư hóa cọp thì vẫn tồn tại, lưu truyền cho tới bây giờ../.
(1) S'ach Việt sử lược nói là vào tháng 11. Sách Toàn thư nói là vào tháng ba, còn sách Việt Điện U Linh lại chỉ nói vào mùa thu. Cuộc đi chơi này, các tài liều cho biết là Lý Nhân Tông dạo chơi để xem đánh cá.
[color=blue]
Giai Thoại về Mạc Đĩnh Chi
MỘT CON NGƯỜI LIÊM KHIẾT
Mạc Đĩnh Chi (MĐC) thông minh từ nhỏ, lại rất chăm chỉ học hành, có tài ứng đối mau lẹ. Năm 1304, vua Trần Anh Tông mở khoa thi để kén người tài trong bốn cõi. Năm ấy, ông thi đỗ Trạng nguyên với điểm loại ưu. Hôm nhà vua ban cho mũ áo , rất ngạc nhiên thấy MĐC chỉ là một chàng trai có vóc người nhỏ, thấp , tướng mạo xấu xí. Vua Anh Tông có ý không muốn dùng ông. M-ĐC bực lắm, không nói gì cả, về nhà viết bài phú "Ngọc tỉnh liên " (Cây sen trong gie^'ng, ngọc ), ông tự ví mình như một thứ sen thần mọc trong gie^'ng ngọc .
Bài phú được dâng lên vua Anh Tông. Từng câu, từng chữ trong bài phú đã làm cho vua Anh Tông bừng tỉnh và thốt lên : "Mạc Trạng nguyên quả là bậc thiên tài, có tiết tháo ".
- MĐC là người rất liêm khiết, thẳng thắn, được tiện không lấy làm của riêng, giàu sang phú quí đối với ông không có ý nghĩa gì, cho nên được người đời ca tụng.
Một lần, vào năm 1323, vua Trần Minh Tông cho gọi viên quan nội thị đến nói nhỏ :
- Nghe nói các quan và dân chúng đều quen MĐC là người liêm khiết, thẳng thắn lắm. Trẫm định thử xem có đúng như thế chăng?
Nói đoạn , vua Minh Tông lấy 10 quan tie^`n đặt vào tay viên quan nội thị, rồi nghe sát tai thì thầm to nhỏ. Viên quan nội thị tâu : - Thần sẽ làm đúng như ý bệ hạ sai bảo.
Sáng ấy, Mạc dậy sớm hơn thường lệ. Trời còn chưa sáng rõ , ông đã tập xong hai bài quyền. Ông vươn người hít thở không khí trong lành của buổi sớm ban mai. Xong công việc thường lệ , ông lững thững vào nhà. Vừa bước lên bậc cửa, bỗng ông kêu lên kinh ngạc :
- Ô kìa ! tiền của ai đánh rơi mà nhiều thế kia?
Ông nhặt lên đếm, vừa tròn 10 quan. Ông thầm nghĩ : "Quái ! Đêm qua không có ai lại chơi, sao có tiền rơi? ". Ông vội vã khăn áo chỉnh tề, vào yết kiến nhà vua :
- Tâu bệ hạ, thần sáng nay có bắt được 10 quan tiền ở trước cửa nhà, hỏi khắp cả mà không ai nhận, thần xin trao lại để bệ hạ trả lại kẻ mất của.
Vua Minh Tông mỉm cười gật đầu :
-Không ai nhận tiền ấy thì người cứ lấy mà dùng...
-Thưa bệ hạ , tiền này không ít, người mất của chắc xót xa lắm, nên tìm người trả lại thì hơn.
- Nhà ngươi yêu tâm, cứ giữ lấy mà dùng. Tiền thưởng lòng chính trực , liêm khiết của nhà ngươi đấy.
M ĐC bấy giờ mới vỡ lẽ ra là nhà vua đã thử lòng ông. Ông chào tạ ơn trở về.
CÂU ĐỐI Ở QUAN ẢI
Năm 1308, M ĐC nhận chiếu chỉ của vua Anh Tông đi sứ nhà Nguyên. Da.o ấy vào đầu mùa hạ, tuy trời ít mưa, nhưng đã mưa thì mưa như đổ nước từ trên trời xuống; đường sá, đồng ruộng, nước trắng băng một màu, việc đi lại gặp trở ngại lớn. Chính vì vậy mà đoàn sứ bộ đến qua ải chậm mất hai ngày. Quan coi ải một mức không cho qua. M ĐC bực lắm, toan quay trở về nhưng nghĩ đến mệnh vua mà mình gánh vác chưa trọn nên nán lại xin đi. Ngẫm nghĩ hồi lâu , viên quan coi ải nói :
- Nghe nói ngài là người có tài văn chương, tài ấy sao không sử dụng lúc này? Bây giờ tôi ra một vế câu đối, nếu đối thông suốt, sẽ mở cửa ải; bằng không , xin mời ngài quay lại .
Yên lặng giây lát, viên quan nọ hí hửNg ra đối :
- Qu'a quan trì , quan quan bế, át qu'a khách qu'a quan.
(Đến cửa ải chậm, người coi cửa đóng cửa không cho khách qua )
Không cần suy nghĩ lâu, MĐC đối ngay :
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
(Ra đối thì dễ, đối lại thì khó, mời tiên sinh đối trước ).
Quan coi ải vái ông hai vái, tỏ ý phục tài, rồi mở cửa cho đi.
Giải Oan
Một bổi chiều hè, trời nắng như đổ lửa, Mạc ĐĩNh Chi và mọi người lúc ấy wa một qu'an nước ven đường. M.ac cho mọi người nghỉ lại. Chủ qu'an là một bà cụ già tóc bạc phơ, đon đả chào khách. Ca'nh đấy không xa có tiếng khơi nước trong xanh. Trên thành gie^'ng có viết 5 chữ : "Ngân bình, kiện thượng tị ". Thấy lạ, Mạc hỏi duyên do. Bà cụ chậm rãi kể :
- xưa có một cô gái bán hàng nước học hành giỏi, chữ nghĩa thông. Gần đây, có một anh học trò muốn ngấp nghé , cứ ngày ngày đi học về, lại vào uống nước tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh :
- Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên , mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa, Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện xin nâng khăn sửa túi , bằng không, thì xin chàng chớ qua đây làm gì nữa. Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân trông thấy cái ấm ti'ch bằng bạc, mới ra câu đối rằng :
" Ngân bình, kiện thượng tị "
(Bình ngọc, mũi trên vai. Ý nói cái vòi trên cổ ấm ).
Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được , xấu hổ qu'a, đành đâu đầu xuống gie^'ng đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế câu đối ấy lên thành gie^'ng để thách thức cả thiên hạ Nhưng xưa nay chưu ai đối được .
Nghe đến đây, Mạc cười :
- Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải ngậm oan nơi đáy gie^'ng ! Thôi để ta đối giùm giản oan ccho hồn kẻ thư sinh.
M ĐC bèn đọc :
" Kim tỏa, phúc trung tu"
(Khóa vàng, râu trong bụng. Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa ).
Sau đó, Mạc bèn sai người viết câu ấy lên thành gie^'ng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa.
Mọi người đều chịu ông đối giỏi.
Tiếng Sấm Đất
Tin Mạc Đỉnh Chi (MDC) , sứ giả An Nam rất hay chữ và đối đáp nhanh nhẹn, đã truyền đến triều đình nhà Nguyên . Cả triều đình xôn xao bàn tán, người thì bảo phải chơi cho y một vố thật đau, kẻ thì bảo phải làm cho y bẽ mặt trước công chúng. Cuối cùng , viên Thừa tướng bày mưu:
- Tâu bệ hạ, thần nghĩ ra một kế, mấy hôm nữa khi hắn ta đến, cả triều đình mũ áo cân đai chỉnh tề ra đón, sai hết cả cung phi, thị tì ra để mua một trận cười.
Vua Nguyên sốt ruột hỏi :
- Kế đó ra sao, hãy nói trẫm nghe đi đã.
- Tâu bệ hạ, trước cổng thành, ta cho đào một cái hố tròn, sâu, trên bị da thật căng để làm thành một cái trống đất đặc biệt. Chờ khi hắn đến, sai người gõ thật to, tiếng trống sẽ như tiếng động đất, như vậy , hắn ta và tùy tòng phải khiếp đảm, nhớn nhác, ngựa nghẽO kinh sợ chạy tán loạn.
Vua Nguyên và quần thần hí hửng khen kế đó rất hay. Và trống đất được làm rất khẩn trương.
Đoàn sứ giả đi đã lâu ngày, dầm mưa, dãi gió, gội sương đã nhiều. Ai nấy đều mệt mỏi rã rời, nước da rám nắng đen sạm. Con ngựa của M ĐC cũng kiệt sức lắm rồi, nó bước đi khấp khểnh, quất roi vào mông đen đét nó vẫn cứ ỳ ra . Khi trông thấy thành trì nhà Nguyên sừng sững trước mắt, mọi người vui sướng reo lên, trong người nhẹ hẳn như trút được g'anh nặng, nỗi mệt nhọc dần dần tan biến đi. Họ hồ hởi bước tới cổng thành, lúc ấy vào buồn chiều tà. Cửa thành cờ xí rợp trời, người đông nghiẹt đứng giạt hai bên. Vua Nguyên mặc áo bào đỏ, ngồi chễm chệ trên đỉnh gác cổng thành.
M ĐC và đòn sứ bộ vừa đi tới, thì bỗng tiếng trống đất bu.b bục beng, bu.c bục beng dội vang dưới chân. Ai nấy đều ngơ ngác. Con ngựa của M ĐC không biết chạy chỗ nào, sợ qu'a ngã qu.i xuống đất. CẢ triều đình nhà Nguyên reo hò ầm ĩ. Vua Nguyên khoái chí cười tít cả mắt lại, và đắc chí lắm . Lúc ấy M ĐC cũng bối rối , nhưng trấn tĩNh lại đưỢc ngay không thèm đếm xỉa đến vau Nguyên đang ngồi trên cổng thành , cau mặt lại nói :
- Có gì mà các ngài cười? tôi biết lắm, mùa này làm gì có sấm đất . Có tiếng động lạ, tôi cho ngựa qu`i xuống lắng tai nghe xem có phải sấm đất chăng?
Từ trên lầu cao vua Nguyên phải gật đầu khen :
- An Nam Tr.ang Nguyên quả là nhanh chí .
Bài Thơ Đề Quạt
M ĐC đến kinh đô nhà Nguyên vào cuối mùa hè. Cái nắng ở đây cũng chói chang và oi bức ghê gớm. Ông và sứ Cao Ly (triều Tiên ( cùng ra mắt vua Nguyên vào một buổi chiều . Chính lúc ấy cũng có một sứ thần Tây Vực ( gồm các nước vùng Tân Cương , Miến Điện ) đến dâng một chiếc quạt lông rất đẹp. Vua Nguyên bảo :
- Nhân có quạt dd.ep, trẫm xin mời hai sứ thần An Nam và Cao Ly mỗi người làm một bài thơ thật hay đề vào quạt !
M ĐC lấy ấy còn đang mãi suy nghĩ tứ thơ thì sứ Cao Ly đã cầm bút viết thoăn thoắt . Ông liếc thấy sứ thần Cao Ly viết (tạm di.ch )
Nắng nôi oi ả người tự Y, Chu (Y Doãn một tướng giỏi đời nhà Thương, Chu Công, một người hiền ở đời nhà Chu ).
Rét mướt căm căm ngươi là Bá, Thúc (Bá Di, Thúc Tề: hai người con vua Ân, VŨ Vương diệt nhà Ân lập nhà Chu. Hai anh em ở ẩn trên núi, quyết không ăn gạo nhà Chu, hái rau vi ăn, cuối cùng chết đói ).
Thế là nhân ý ấy, ông phát triển thêm thành bài thơ hoàn chỉnh (tạm di.ch) :
Lúc trời oi ả như lò lửa
Người tựa Y, Chu bậc cự nho.
Khi mùa đông đến trời băng giá ,
Ngươi hệt Di, Tề rét co ro.
Ôi !
Lúc dùng chuyên tay, khi xếp xó ,
Ta với người đều như thế đó.
Vua Nguyên xem xong bài thơ, gật đầu khen mãi và phê cho "Lưỡng quốc Trạng nguyên " (Trạng nguyên hai nước ).
Nhưng vua Nguyên nào hiểu được ý thơ của ông. Bài thơ thực chất đầy giọng bất mãn , phản ảnh cảm xúc bực dọc, khó chịu của người trí thức trong chế độ phong kiến ấy. Vua quan phong kiến đối đãi với người tài khi hậu, khi bạc, không khác gì đối với cái quạt, khi cần chuyên tay, không cần thì xếp xó !
CHuyện Xảy Ra Trong Phủ TỂ TƯớng
một hôm, nhân việc quan rỗi rãi, MDC vào thăm phủ Thừa tướng nhà Nguyên. Trong phủ, trang hoàng lộng lẫY, có treo một bức trướng to tướng , trên thêu một con chim sẻ đậu cành trúc, trông tựa chim thật. Ông lại gần xem, Thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên cười.
- A , sứ thần "An Nam" thấy lạ lắm phải không? Ha ha!
MDC vội thẳng tay kéo soạt, bức tường rách toang, tiện tay xé luôn mấy cái nữa, bức tường rách tung ra từng mảnh rơi lả tả.
- Sao ngài lại xé? Sao ngài lại xé bức trướng qu'i na`y? Một viên quan hốt hoản g kêu lên.
MDC nghiêm nét mặt lại , bảo :
- Tôi thấy người xưa chỉ vẽ cây mai, và chim sẻ thôi. Vì trức là quân tử, chim sẽ là tiểu nhân, nay Thừa tướng lấy trúc với sẽ thều vào trướng, như vậy là tiểu nhân ở trên quân tử. Tôi sợ đạo tiểu nhân lớn hơn, đạo quân tử mòn đi, nên vì thánh triều trừ bỏ nó đi, chứ thứ ấy quí giá nỗi gì ?
Viên Thừa tướng nọ ức qu'a, song không có cớ gì để quở trách hoặc bắt đền được. Bấy lâu nay, ông ta đã từng tự hào có bức trướng dd.ep và sang trọng này, bức trướng từng tô điểm căn phòng thêm li.ch sự , nay bỗng dưng rách tan thành, thật là tai bay vạ gió. Ông ta tiếc rẻ mãi, nhưng chỉ da'm xuy't xoa trong lòng.
Tối hôm ấy, quan Thừa tướng mời MDC đến uống trà và ngâm vịnh. Ông ta cho bày tiệc trà ở giữa sân để tiếp khách và hóng mát . Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc, chủ và khách ngồi uống trà thân mật, thỉnh thoảng M.ac lại ngâm một câu thơ, chủ cũng ngâm thơ hoại lại . Hai người cân tài cân sức, chẳng ai chịu kém. Đêm càng khuay, cả chủ lẫn kah'ch càng say mê gửi gắm lời thơ của mình vào cảnh tĩnh mi.ch. Khác lúc nào trong lòng cũng thanh thản, thoải mái thả tâm hồn thơ một vào thơ, vào cảnh thiên nhei^n. Chủ đôi lúc lại nhớ đến bức trướng rách trong lòng ấm ức, bực vì gặp hải ông khách qu'a thô bạo . Đêm đã khuay, khi tiệc sắp tan, ông ta đinh trả miếng lại chuyện bàn chiều, liền cầm một chiếc chén, lý sự với Mạc ràng :
- Cây kỷ là gỗ, cái ch'en không phải là gỗ, tại sao lại lấy gỗ làm ch'en?
MDC thấy câu hỏi thật phi lý, vớ vẩn, lý sự , ông bèn cười mà hỏi lại rằng :
- THưa ngài thừa tướng! Ngài hãy giải th'ch: Phật không phải là người, thầy tăng là người, vậy cái gì đã khiên cho thầy tăng thờ Phật?
Thừa tướng cười ta xí xóa. Hai người dắt tay nhau đi vào trong nhà, . Vừa bước chân lên bực cửa, thừa tướng lại ra đối :
- An khử nữ dĩ thỉ vi gia
(Chữ an bỏ chữ nữ đi, thêm chữ thỉ vào thành chữ gia (nhà)).
MDC thấy đây là một lối chơi chữ rất thâm hiểm của ông ta. Nói như vậy có nghĩa là nhà Nguyên cần phải xóa bỏ nước An Nam, nhập thành châu chuyện của họ . Mạc lập tức đối lại rất sắc bén :
- Tù xuất nhân, lập vương thành quốc
(Chữ tù bỏ chữ nhân đi, thêm chữ vương vào thành chữ quốc ).
Thực ra là chữ đối chữ, ý đối ý, dân ta nhất định xóa bỏ ách áp bức, đèn nén của nước lớn, xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ.
[b]Những Viên Đạn Ngọc
Một hôm, vào buổi sáng đầu thu, khi mặt trời đỏ ửng như qu?a cầu lửa vừa nhô lên khỏi chân trời xa, những giọt sương như những hạt ngọt trong suốt treo trên những khóm cỏ hai bên đường. MDC cưỡI ngực đủng đỉnh ra ngoài thành dạo cảnh. Khi gặp ông, người ta vẫn xì xào bàn tán. Kẻ thì chê ông xấu xí, người thì bảo ông lùn tịt, bé tí, kẻ thì bảo : trong triều đình này, đã ai ăn đứt được ông ta. Tuy vậy, hôm nay so với ngày mới sang, người ta không ai dám xem thường ông nữa. Vì ông đã là lưỡng quốc Trạng nguyên, tiếng đồn vang khắp bốn phương.
Mặc cho người ta bàn tán, ông cứ thúc ngựa đi, ngẩn mặt đón gió thu mát lạnh, trong lòng vô cùng thoải mái . Ông đính bụng sẽ thăm đây đó ít ngày rồi còn chuẩn bị về nước, hoàn thành chuyến đi đáng ghi nhớ này. Đang mãi nghĩ miên man, bỗng ông lại gặp Thừa tướng cũng đi đâu về sớm. Ông ta dường như còn cay cú với chuyện cũ, nên thấy Mạc Đĩnh Chi, ông ta dừng ngựa, chỉ vào mặt trời lúc đó vừa mới nhô lên khỏi ngọn cây mà nói nói rất văn hoa rằng :
- Mặt trời như qu?a cầu lửa, mây như khói, ánh nắng ban mai thiêu ch'ay con trăng. Tiên sinh thấy thế nào, có đúng chăng?
MDC biết ông ta chơi chữ, muốn ví nước Nguyên như mặt trời có ánh nắng chói lọi , còn nước Nam chẳng qua cũng như mặt trăng, có ánh nhàn nh.at, yếu ớt mà tho^i. X'et lời nói, biết được ông ta khinh thường nước Nam nhỏ b'e, yếu hèn. MDC không chịu kém, ông đã dùng qui luật của tự nhiên để ra đòn lại rát hợp lý mà sâu :
- Ngài có thấy không? Nếu như mặt trời là hòn lửa, thì mặt trăng là cung tên, những vì sao là những viên đạn ngọc, khi hoàng hôn buông, cũng chính là lúc giương cung tên bắn rớt mặt trời.
Câu trả lời thật văn hoa và đầy hình tượng, tỏ ra dân tộc ta không bao giời chịu khuất phục, luôn luôn có khí phách anh hùng.
Viên thừa tướng phục ta`i, quất ngựa đi thẳng
Tài Ứng Đối
Lại một lần, mấy viên quan nah` Nguyên cho đào một hố sâu, đan phênh đậy lên, rồi lấp một lần đất mỏng. Hôm sau họ cùng đến mời MDC đi thăm cảnh. Mạc nhận lời ngay, khi đến bờ sông, họ nhường cho ông lên cầu sang sông trước . Nhưng vừa toan cất ngựa lên cầu thì sụp ngay xuống hố sâu. Mấy viên quan nọ cười nói :
- Chúng tôi ra cho một vế câu đối, nếu ông đối được thì sẽ kéo lên.
MDC gắt : - Thì các ông cứ ra đối chứ sao !
Một người bèn đọc :
- Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tư đạo (gỗ thẳng , cẳng ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng ).
Câu này lại toàn là tên người ghép lại : Can Mộc, Hoành Cừ, Lục Giả, Tương Như, Tư Đạo, đều là những nhân vật nổi tiếng xưa nay của Trung Quốc. MDC ở dưới hố, nhân trước khi ngã, có trông sang bên kia sông, thấy một cái đình tựa ở chân núi đối lại :
- Đại đình, an thạch , vọng chi nghiễm nhược thái sơn (Đình to, đá vững, nhác trông ngỡ Thái Sơn ) . Câu này cũng toàn tên người ghép lại và cũng là những người nổi tiếng xưa nay: Đại Đình, An Thạch, Vọng Chi, Nghiễm Nhược, Thái Sơn.
Mấy viên quan nọ phục tài ứng biến mau lẹ của họ Mạc, bèn xúm nhau đở ông lên khỏi hố.
Bài Điếu Văn
Chỉ còn mấy hôm nữa là đến gna`y về nước. Công việc chuẩn bị cho ngày về thật gấp rút. Nào là phương tiện đi phải lo cho đủ và tươm tất, nào là lương ăn đường, nào là phải chuẩn bị buổi ra mắt nhà vua vào ngày cuối cùng, sao cho li.ch thiệp và vui vẻ, nào là còn phải đi chia tay các bạn bè. Tất cả dồn lại tới tấp, khiến MDC chẳng lúc nào rảnh rang được một chút. Ông còn đang lo tính, thu xếp công việc thì sứ thần của trei^`u đình đến nói:
- Thừa ngài, sáng nay không may bà trưởng công chúa quá cố, nhà vua vô cùng thương tiếc, lúc nào cũng túc trực bên linh cữu. Cả triều đình bận rộn chuẩn bị cho đám tang, người nào việc ấy cả. Ngài là Trạng nguyên của triều đình că"c cũng phải đóng góp một phần nào vào công việc.
MDC hỏi :
- Ông nói đi, tôi phải làm gì bây giờ?
- Thưa, ngài có thể viết một bài điếu văn để đọc trước đám trang, lời lẽ sao cho giản dị mà súc ti'ch. Đó cũng là điều mong muốn của nhà vua.
- Thôi, ông hãy vễ đi, tôi sẽ làm tròn bổn phận.
- Công việc chuẩn bị cho ngày vễn vẫn được tiến hành. Người ta chỉ thấy ông thu xếp mọi việc rất gấp rút không hền bận tâm đến việc viết bài điếu văn. Có người lo lắng hỏi, ông cười bảo :
- Được, đâu sẽ có đó. Không thấy ta đã viết rồi đó sao?
Ông chỉ vào tơ giấy đặ trên bàn. Mọi người hết sức ngạc nhiên thấy trên tờ giấy chỉ biết bốn chử "nhất" (1). Một bài điếu văn ư? Sao chỉ có ngần ấy chữ được . Ai cũng đặt câu hỏi như vậy, nhưng không thể tự trả lời được...
Mấy hôm sau, đám tang dược cử hành rất long trọng, tất cả văn võ bá quan trong triều đình đều có mặt đông đủ. Sau điệu nhạc "lâm khốc" , mọi người đều thương xót sụt sùi. Khi ấy, MDC khoan thai đi đến be^h linh cữu, tay dâng tờ điếu văn. Cả triều đình tròn mắt ngạc nhiên và hồi hộp vì thấy trên tờ giấy chỉ có một sữ "nhất" to tướng. MDC đằng hắng lấy giọng đọc :
Thiên thượng nhất đóa văn
Không trung nhất điểm tuyết
Lăng v nhất chi hoa
Quảng hàn nhất phiến nguyện
Y! vân tán, tuyết tiêu , hoa tàn, nguyệt khuyết. (Theo sách "thuyết phu tùng đàm" thì câu này của Dương Ức nhà thơ đời Đường ).
(trên trời một đóa mây
Không trung một giọt tuyết
Một nhành hoa trong vườn thượng uyển
Một mảnh trăng trong cung Quảng Hàn
Thân ôi! Mây tản, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết ).
Ông đọc dứt lời, mọi người đều nghẹn ngào xúc động. Tuy chỉ có mốn chữ "nhất", nhưng ông đã đọc thành mo^.t bài súc ti'ch, miêu tả bà trưởng công chúa như áng mây đẹp bồng bềnh trên trời xanh, như một giọt tuyết tră"ng giữa trong trung, như nhành hoa dd.ep trong vườn vua, như mảnh trăng sáng trong cung Quảng Hàn. Này bà chết đi là tổn thất rất lớn, cũng như áng mây dd.ep tản tác, giọt tuyết tan đi, bông hoa tàn rữa, vần trăng khuyết mà thôi. Thương tiếc thật đấy, nhưng đó là tạo hóa sinh ra.
----------------------------
[b]Đọ tài lần cuối
S'ang nay, MDC khăn mũ chỉnh tề vội vã vào chầu lần cuối để tạ biệt vua Nguyên về nước. Trong lòng ông mừng lắm, suỐt đêm qua ông không sao chợp mắt được, cứ nghĩ đến lúc gặp gỡ người thân, gặp bạn bè, lòng lại rộn lên xao xuyến.
Vào tới công đường, ông đã thấy các quan văn võ tề tựu đông đủ. Ông rảo bước lên hàng đầu tâu lớn :
- Dạ muôn tâu bệ hạ ! Thần có lời từ biệt, xin chúc bệ hạ vạn thọ vô rương (sống lâu muôn tuổi ).
Suy nghĩ giây lát, từ trên gnai vàng, vua Nguyên phán xuống:
- Bấy lâu nay, nhà người lưu tại Yên Kinh, thăm phong cảnh, xem xét kỹ lưỡng mọi nơi, ngày nào cũng cưỡi ngựa đi trên đường cái quan, thế ngươi có biết mỗi ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường cái quan không?
Trên đường phố ở kinh đô Yên Kinh rộng lớn này hàng ngày có biết bao nhiêu người qua lại, làm sao có thể biết được? thật ra là một câu hỏi oái oăm, nan giải, Mạc nghĩ vậy .
Thấy MDC ngập ngừng, vua Nguyên và quần thần ra vẻ hí hử, tưởng rằng phen này Mạc phải chịu bí.
Nhưng Mạc cười nói :
-Tâu bệ hạ, có hai người chứ mấy?
Vua Nguyên ngạc nhiên hỏi :
- Người nói sai rồi. Sao lại chỉ có hai người thôi?
MDC thưa :
- Tậu bệ hạ, phàm là những kẻ qua lại trên đường cái quan kinh đô này, thì chẳng vì danh cũng l lợi i , vậy há chẳng phải chỉ có hai người, một vì danh , một vì lợi sao?
Vua Nguyên trong lòn gphu.c lắm, saong không nói ra. Vậy y lại còn có ác ý muốn lưu MDC tại Yên Kinh không cho về Nam, bèn bày kế đưa Mạc vào trong :
- Có một chiếc thuyền trong dó chỉ có vua, thầy học cha mình (quân, sư, phụ ) bơi đến giữa sông chẳng may bị sóng lớn đắm thuyền. Khi ấy, ngươi ở trên bờ nhảy xuống bơi ra cu**'u, nhưng chỉ có thể cứu được một người thôi, thế thì người cứu ai?
Với câu hỏi hóc búa này, vua Nguyên cho rằng nhất định Mạc sẽ mắc phải tội lớn. Vì rằng nếu Mạc nói chỉ cứu vua, ắt mắc tội bất hiếu với cha, bất nghĩa với thầy học Nếu nói chỉ cứu thầy, thì mắc tội bất trung với vua, bất hiếu với cha. Tội ấy quả đáng phải chém đầu. Nếu chỉ cứu cha thì lại mắc tội bất trung, bất nghĩa. Nếu không nói gì tức là không cứu ai, tội ấy càng nặng.
Quần thần nhà Nguyên đắc ý đưa mắt nhìn nhau, thầm thì bàn tán, cho rằng phen này họ Mạc nhất định mắc tội chém đầu, chứ chẳng chơi
NHưng MDC không hề tỏ ra lúng túng, mà ông dõng dạc trả lời :
-Thần đứng trên bờ, thấy thuyện bị đắm tất phải vội vả nhẩy xuống bai ra cứu, hễ gặp ai trước thì cứu ngưỜi ấy, bất kể người ấy là vua, thầy hay cha mình .
Cả triều đình trố mắt thán phục trưỚc câu trả lời ấy.
(Xin chép thêm dưỚi đây bài phú "Hoa Sen gie^'ng giọc" nổi tiếng của MDC )
Ngọc Tỉnh Liên Phú
Khách hữu:
Ẩn kỹ cao trai; hạ nhật chính ngọ.
Lâm i'ch thủy chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã ký phục; hoàng ký quan.
Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lầm ti.ch cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai; viết :to`n Hoa san
Nãi thụ chi kỷ; nãi sử chi tạo
Phá Đông - lăng chi qua; tiến Dao trì chi quả.
Tái ngôn chi lang; tái tiếu chi thả.
Ký nhi mục khách viết : tử phi ái liên chi quân tử dã?
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian ;
Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi câu kỹ; phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái họa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết :
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng; lãnh tỉ sương hề cam tỉ mật giả dã?
Ti'ch văn ký danh; kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hàn hiên; nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất
Nãi phất thập dạng chi tiên, tỉ ngũ sắc chi bút
Dĩ vi ca viết :
Giá thủy tinh hề vi cung ; tạc lưu li hề vi hộ.
Toái pha lê hề vi nên ; sái minh châu hề vi lộ.
Hương phức úc hề tằng tiêu; đế văn phong hề nhữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương ; Tố Nga phân hề nhữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu : vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vì hề trung lưu; hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi bộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a ; quả hà thường hồ phong vũ .
Khủng phương hồng hề dao lạc ; mỹ nhân lai hề tuế mộ.
Đạo sĩ văn nhi thán viết :
Tử hà vi ai thả oán dã?
Độc bất kiến Phượng hoàng tr`i thượng chi tử vì, Bạch ngọc đường tiền chi hồng dược?
Quýnh địa vị chi thanh cao ; ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều ; tử độc hà chi hồ tao khách nhân chi quốc?
Ư thị hữu cảm tư thông, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi ; canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm , kính hiến Ngọc tỉnh liên chi phú
dỊCH NGHĨA :
PHÚ HOA SEN GIE^'NG NGỌC
Khách có kẻ :
Nhà cao tựa ghế ; trưa hạ. nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung
Chợt có người :
Mặc áo quê ; đội mũ vàng .
Tiên phong đạo cốt ; khác xa trần gian.
Hỏi : "ở đâu lại " - Rằng "Từ Hoa san"
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông lăng đem cắt ; quả Dao trì đem mời
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.
DDao.n rồi, trông khách mà rằng :
"Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?"
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục ; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh ; mẫu đơn đất Lạc nào tầy.
Giậu Đào lệnh cúc sao ví được ; vườn Linh QUân lan khó sánh thay !
Aa^'y là giống sen gie^'ng ngọc ở đầu núi Thái họa đây "
Khách rằng:
"Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo : "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng , lạnh như sương mà ngọt như mật " đó ử
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm să'c thấm ngay.
Làm bài ca rằng :
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây ,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi ,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân ".
Đạo sĩ nghe mà than rằng :
"Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy : hoa tử vi trên ao Phượng hoàng,
Hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả ; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý : cõI tao nhân anh đi mãi sao đảng "
Khách bấy giờ :
Nghe lọt mấy lời ; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai ;
Họa câu phong đầu của Hàn Dũ
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng ,
Kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên phú ".
(PHan Võ di.ch )
(HTTVVN II)
(Dựa theo một bản in cũ )
./. hết MDC